Phẩm Voi sử dụng hình tượng con voi – loài vật tượng trưng cho sức mạnh và sự kiên định trong văn hóa Ấn Độ cổ đại – để ví von cho tâm hạnh của người tu tập. Đức Phật so sánh việc nhẫn nhịn những lời phỉ báng của người đời cũng giống như con voi chúa hứng chịu mũi tên nơi chiến trận.
Bên cạnh đức tính kham nhẫn, Đức Phật còn đề cao nếp sống độc cư thiền định. Ngài dạy rằng nếu không tìm được người bạn đồng hành hiền trí và đạo đức, thì thà sống một mình như voi chúa còn hơn là kết bạn với kẻ ngu si.

320.
Ta như voi giữa trận,
Hứng chịu cung tên rơi,
Chịu đựng mọi phỉ báng;
Ác giới rất nhiều người.
Như voi xuất trận hứng chịu cung tên, ta nhẫn chịu mọi điều phỉ báng, bởi đời lắm người phá giới (thường ghét kẻ tu hành).

321.
Voi luyện, đưa dự hội,
Ngựa luyện, được vua cưỡi,
Người luyện, bậc tối thượng
Chịu đựng mọi phỉ báng.
Luyện được voi để đem dự hội, luyện được voi để cho vua cưỡi là giỏi, nhưng nếu luyện được lòng ẩn nhẫn trước sự chê bai, mới là người có tài điêu luyện hơn cả mọi người.

322.
Tốt thay, con la thuần,
Thuần chủng loài ngựa Sin,
Đại tượng, voi có ngà;
Tự điều mới tối thượng.
Con la thuần tánh là con vật lành tốt, con tuấn mã Tín-độ là con vật lành, con voi lớn Kiều-la cũng là con vật lành; nhưng kẻ đã tự điều luyện được mình lại càng lành hơn.

323.
Chẳng phải loài cưỡi ấy,
Đưa người đến Niết Bàn.
Chỉ có người tự điều,
Đến đích, nhờ điều phục.
Chẳng phải nhờ xe hay ngựa mà đến được cảnh giới Niết-bàn; chỉ có người khéo điều luyện mình mới đến được Niết-bàn.

324.
Con voi tên Tài hộ,
Phát dục, khó điều phục,
Trói buộc, không ăn uống.
Voi nhớ đến rừng voi.
Con voi Tài hộ (Dhamapalako, hộ vệ tài sản) đến kỳ phát dục thì hung hăng khó trị, buộc trói thì bỏ ăn mà chỉ nhớ nghĩ rừng voi.

325.
Người ưa ngủ, ham ăn
Nằm lăn lóc qua lại,
Chẳng khác heo no bụng,
Kẻ ngu nhập thai mãi.
Như heo kia ưa ngủ lại tham ăn, kẻ phàm ngu vì tham ăn ưa ngủ, nên phải bị tiếp tục vào bào thai.

326.
Trước tâm này buông lung,
Chạy theo ái, dục, lạc.
Nay ta chánh chế ngự,
Như cầm móc điều voi.
Trong những thời quá khứ, tâm ta thường chạy theo dục lạc, tham ái, ưa nhàn du, nhưng nay ta đã điều phục tâm như người quản tượng lấy móc câu chế ngự con voi luông tuồng.

327.
Hãy vui không phóng dật,
Khéo phòng hộ tâm ý;
Kéo mình khỏi ác đạo,
Như voi bị sa lầy.
Hãy vui vẻ siêng năng, phòng hộ, tự cứu khỏi nguy nan, như voi cố gắng vượt khỏi chốn sa lầy.

328.
Nếu được bạn hiền trí
Đáng sống chung, hạnh lành,
Nhiếp phục mọi hiểm nguy
Hoan hỷ sống chánh niệm.
Nếu gặp bạn đồng hành hiền lương, giàu trí lự, hàng phục được gian nguy; hãy vui mừng mà đi cùng họ.

329.
Không gặp bạn hiền trí.
Đáng sống chung, hạnh lành.
Như vua bỏ nước bại,
Hãy sống riêng cô độc,
Như voi sống rừng voi.
Nếu không gặp bạn đồng hành hiền lương, giàu trí lự, hãy sống một mình, như vua tránh nước loạn, như voi sống ở rừng.

330.
Thà riêng sống một mình,
Không kết bạn người ngu.
Độc thân, không ác hạnh
Sống vô tư vô lự,
Như voi sống rừng voi.
Thà ở một mình hơn cùng người ngu kết bạn. Ở một mình khỏi điều ác dục, như voi một mình thênh thang giữa rừng sâu.

331.
Vui thay, bạn lúc cần!
Vui thay, sống biết đủ.
Vui thay, chết có đức!
Vui thay, mọi khổ đoạn!
Gặp bạn xa lâu ngày là vui, sung túc phải lúc là vui, mệnh chung có được thiện nghiệp là vui, lìa hết thống khổ là vui.

332.
Vui thay, hiếu kính mẹ!
Vui thay, hiếu kính cha!
Vui thay, kính Sa-môn!
Vui thay, kính hiền thánh!
Ở đời được kính dưỡng mẹ hiền là vui, kính dưỡng thân phụ là vui, kính dưỡng Sa-môn là vui, kính dưỡng thánh nhơn là vui.

333.
Vui thay, già có giới!
Vui thay, tín an trú!
Vui thay, được trí tuệ!
Vui thay, ác không làm!
Già vẫn giữ giới là vui, thành tựu chánh tín là vui, đầy đủ trí tuệ là vui, không làm điều ác là vui.