Mang sắc thái cảnh báo nghiêm khắc, Phẩm Địa Ngục đề cập trực diện đến hậu quả của những hành động bất thiện. Đức Phật khẳng định rằng cái ác không chỉ gây hại trong hiện tại mà còn dẫn đến những cảnh giới khổ đau trong tương lai.
Trong phẩm này, Đức Thế Tôn đã liệt kê các hành vi sai trái như nói dối, tà dâm, phá giới và lợi dụng lòng tin của người khác. Đồng thời, Ngài cũng nhắc nhở về quy luật nghiệp báo không thể tránh khỏi: người làm ác tự thiêu đốt mình bằng chính hành động của họ, giống như sắt bị rỉ sét ăn mòn.

306.
Nói láo đọa địa ngục,
Có làm nói không làm,
Cả hai chết đồng đẳng;
Làm người, nghiệp hạ liệt.
Thường nói lời vọng ngữ, có làm nói không làm, người tạo hai nghiệp ấy, chết đọa vào địa ngục.

307.
Nhiều người khoác cà sa,
Ác hạnh không nhiếp phục;
Người ác, do ác hạnh,
Phải sanh cõi địa ngục.
Dù mặc nhiều cà-sa, không ngăn trừ ác hạnh, người ác vì nghiệp ác, chết đọa vào địa ngục.

308.
Tốt hơn nuốt hòn sắt
Cháy đỏ như lửa hừng,
Hơn ác giới, buông lung
Ăn đồ ăn quốc độ.
Phá giới chẳng tu hành, thà nuốt hòn sắt nóng, hừng hực lửa đốt thân, còn hơn thọ lãnh của tín chủ.

309.
Bốn nạn chờ đợi người
Phóng dật theo vợ người:
Mắc họa, ngủ không yên,
Bị chê là thứ ba,
Đọa địa ngục, thứ bốn.
Buông lung theo vợ người, phải mắc vào bốn nạn: mắc tội, ngủ không yên, bị chê, đọa địa ngục.

310.
Mắc họa, đọa ác thú,
Bị hoảng sợ, ít vui,
Quốc vương phạt trọng hình;
Vậy chớ theo vợ người.
Vô phước, đọa ác thú, thường sợ hãi, ít vui, quốc vương kết trọng tội; vậy chớ theo vợ người.

311.
Như cỏ sa vụng nắm,
Tất bị họa đứt tay.
Hạnh Sa môn tà vạy,
Tất bị đọa địa ngục.
Vụng nắm cỏ cô-sa (kusa) tức bị họa đứt tay; Sa-môn theo tà hạnh, tức bị đọa địa ngục.

312.
Sống phóng đãng buông lung,
Theo giới cấm ô nhiễm,
Sống Phạm hạnh đáng nghi
Sao chứng được quả lớn?
Những người giải đãi, giới hạnh nhiễm ô, hoài nghi việc tu Phạm hạnh, không thể chứng quả lớn.

313.
Cần phải làm, nên làm;
Làm cùng tận khả năng.
Xuất gia sống phóng đãng,
Chỉ tăng loạn bụi đời.
Việc đáng làm nên làm, phải làm cho hết sức; xuất gia mà phóng túng rong chơi, chỉ tăng thêm dục trần.

314.
Ác hạnh không nên làm,
Làm xong, chịu khổ lụy.
Thiện hạnh, ắt nên làm,
Làm xong, không ăn năn.
Không làm nghiệp ác là hơn, làm ác nhất định thọ khổ; làm các nghiệp lành là hơn, làm lành nhất định thọ vui.

315.
Như thành ở biên thùy,
Trong ngoài đều phòng hộ.
Cũng vậy, phòng hộ mình,
Sát-na chớ buông lung.
Giây phút qua, sầu muộn,
Khi rơi vào địa ngục.
Như thành ở biên khu, được phòng hộ trong ngoài; tự phòng hộ mình cũng vậy, giây lát chớ buông lung; hễ giây lát buông lung là giây lát đọa vào địa ngục.

316.
Không đáng hổ, lại hổ.
Việc đáng hổ, lại không.
Do chấp nhận tà kiến,
Chúng sanh đi ác thú.
Không đáng hổ lại hổ, việc đáng hổ lại không; cứ ôm tà kiến ấy, địa ngục khó lánh xa.

317.
Không đáng sợ, lại sợ.
Đáng sợ, lại thấy không.
Do chấp nhận tà kiến,
Chúng sanh đi ác thú.
Không đáng sợ lại sợ, việc đáng sợ lại không; cứ ôm tà kiến ấy, địa ngục khó lánh xa.

318.
Không lỗi, lại thấy lỗi.
Có lỗi, lại thấy không.
Do chấp nhận tà kiến,
Chúng sanh đi ác thú.
Không lỗi tưởng là lỗi, có lỗi lại tưởng không; cứ ôm tà kiến ấy, địa ngục khó lánh xa.

319.
Có lỗi, biết có lỗi;
Không lỗi, biết là không.
Do chấp nhận chánh kiến,
Chúng sanh đi cõi lành.
Có lỗi biết có lỗi, không lỗi biết không lỗi; giữ tâm chánh kiến ấy, đường lành thấy chẳng xa.